Bài viết‎ > ‎

Hai cơ sở tâm lý của lý luận dạy học hiện đại

đăng 10:08, 16 thg 10, 2011 bởi Thanh Vũ Nguyễn   [ đã cập nhật 04:29, 2 thg 5, 2012 ]

Nguyễn Thanh Vũ - THPT Tây Ninh

Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của xã hội loài người nhằm truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được, biến chúng thành "vốn liếng", kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực của cá nhân người học.

Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động liên quan với nhau, tác động qua lại với nhau:

  • hoạt động dạy của người dạy,
  • hoạt động học của người học.

Hai hoạt động này có chung một mục đích là làm cho người học lĩnh hội được nội dung kiến thức, đồng thời phát triển được nhân cách, năng lực của mình. Quá trình dạy học xảy ra rất phức tạp và đa dạng. Trong đó, sự phối hợp hoạt động giữa người học và người dạy có ý nghĩa quyết định.

Thành tựu quan trọng nhất về tâm lý học giáo dục trong thế kỷ XX là tâm lý học phát triển của Piaget (Jean Piaget, 1896 - 1980) và tâm lý học văn hóa xã hội của Vygotsky (Lev Semyonovich Vygotsky, 1896 - 1934).

hình Piaget

Jean Piaget (9 tháng 8 1896 - 16 tháng 9 1980) là một nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sĩ. Ông nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận với trẻ em. Lý thuyết về phát triển nhận thức và góc nhìn nhận thức luận của Piaget được gọi chung là "Nhận thức luận di truyền" (genetic epistemology).

Piaget luôn đặt tầm quan trọng lớn đối với giáo dục cho trẻ em. Khi là Giám đốc của Văn phòng Giáo dục Quốc tế, ông từng tuyên bố rằng "chỉ có giáo dục mới có khả năng cứu những xã hội của chúng ta khỏi khả năng sụp đổ, cho dù đó là sự sụp đổ do bạo lực hay sự sụp đổ dần dần".

Piaget sáng lập Trung tâm Quốc tế cho Nhận thức luận di truyền Geneva năm 1955 và giữ chức giám đốc cho tới năm 1980. Theo Ernst von Glasersfeld, Jean Piaget là "nhà tiên phong vĩ đại cho lý thuyết học tập của chủ nghĩa kết cấu".

(Nguồn http://vi.wikipedia.org)

Jean Piaget cho rằng tâm lý con người có cấu trúc phức tạp. Quá trình phát triển tư duy là quá trình đồng hóa (assimilation) và điều ứng (accommodation). Khi sự mất cân bằng giữa kiến thức và vốn sống với thực tế xảy ra, quá trình đồng hóa xuất hiện. Quá trình này làm nẩy sinh các cấu trúc tâm lý mới. Quá trình điều ứng điều chỉnh các cấu trúc tâm lý mới để thích ứng với sự biến đổi của môi trường. Quá trình nhận thức đạt tới đỉnh cao khi hai quá trình đồng hóa và điều ứng ở thế cân bằng. Mỗi thời kỳ trong lịch sử phát triển tư duy, con người có những cấu trúc tâm lý khác nhau. Có 4 thời kỳ quan trọng trong lịch sử phát triển tư duy của mỗi người.

  • Thời kỳ giác động (sensori-moteur) bắt đầu từ khi mới sinh và kéo dài đến khoảng 3 tuổi. Trong thời kỳ này, con người nhận biết môi trường thông qua các giác quan.
  • Thời kỳ tiền thao tác (Preoperational stage) bắt đầu khoảng từ khi 3 tuổi và kéo dài đến 7, 8 tuổi. Thời kỳ này con người bắt đầu xuất hiện các thao tác tư duy (opération). Tư duy con người được nâng lên một bậc cao hơn, phức tạp hơn với những cơ cấu và cơ chế mới: những biểu tượng, khái niệm và có sự giao tiếp với người khác.Tuy nhiên tư duy con người còn mang tính trực giác, cảm tính.
  • Thời kỳ thao tác cụ thể (Concrete Operations stage): khoảng từ 7, 8 tuổi đến 12, 13 tuổi. Biết cách thao tác trên các biểu tượng, khái niệm. Nhưng tư duy trừu tượng vẫn còn khó khăn.
  • Thời kỳ thao tác logic hình thức Formal (Operations stage): trên 12, 13 tuổi. Trong thời kỳ này tư duy của con người có cấu trúc gần giống tư duy người trưởng thành.Những khái niệm trừu tượng cũng dần được hình thành trong giai đoạn này.

Tâm lý học phát triển của Piaget tạo nên một cơ sở khá chắc chắn lý luận dạy học hiện đại: tri thức nảy sinh từ hành động. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người tương tác với môi trường, quá trình đó dẫn đến sự phát triển các cấu trúc tâm lý dẫn đến sự phát triển của tư duy.

hình Vygotsky

Lép Xê-mi-ôn-vích Vư-gôt-xki sinh ngày 5-11-1896 ở thị trấn Ooc-sa, nước cộng hòa Bạch Nga. Bố là một nhân viên ngân hàng, mẹ là người có học thức. Sau đó, gia đình ông chuyển về sinh sống ở thị trấn Gô-men, gần biên giới Bạch Nga - Ba Lan và tốt nghiệp phổ thông trung học (lớp 10) ở đó.

Đến năm 1913 thì ông được vào trường Đại học tổng hợp Mát-xcơ-va. Tốt nghiệp Đại học tổng hợp Mát-xcơ-va ông lại quay về Gô-men làm giáo viên.

Năm 1924, ông viết ‘Tóm tắt tâm lý học sư phạm”, “Lý thuyết phản xạ có điều kiện”.

Năm 1926, vừa tròn 30 tuổi, ông viết cuốn sách đầu tiên là “Tâm lý học sư phạm” phản ánh kết quả nghiên cứu và những suy nghĩ về khoa học này từ hồi ở Gô-men.

Năm 1925, trong hội nghị quốc tế về đào tạo và giáo dục trẻ em câm - điếc tổ chức tại Anh, ông đã có một báo cáo khoa học trình bày các nguyên tắc của nhà trường lao động dạy các em học sinh khuyết tật.

Năm 1925-1926, Vư-gôt-xki sáng lập phòng thí nghiệm tâm lý học trẻ em có khuyết tật đặt trong trạm y tế học đường của Bộ giáo dục. Sau đến năm 1929, phòng thí nghiệm này chuyển thành Viện nghiên cứu thực nghiệm tật học trực thuộc Bộ giáo dục (nay là Viện tật học thuộc Viện hàn lâm giáo dục Nga).

Ông mất vì bệnh lao ở tuổi 37 (1934) tại Mát-xcơ-va.

Nguồn: http://www.ued.edu.vn và http://en.wikipedia.org/wiki/Lev_Vygotsky

Tâm lý học văn hóa xã hội của Vygotsky được xây dựng trên 4 nguyên lý cơ bản:

  • trẻ em tự xây dựng nền kiến thức cho mình,
  • sự phát triển không thể tách rời khỏi bối cảnh xã hội cụ thể,
  • học tập đem lại sự phát triển,
  • ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển trí tuệ.

Lý thuyết này cho rằng, sự tương tác xã hội làm cho tư duy và hành vi con người thay đổi một cách liên tục. Sự thay đổi đó tùy thuộc vào hoàn cảnh văn hóa, lịch sử xác định. Hoàn cảnh văn hóa xã hội cung cấp các công cụ tư duy để con người hình thành quan niệm riêng về thế giới. Có 3 con đường mà văn hóa xã hội được truyền từ người này đến người khác.

  • Học tập bằng cách bắt chước: bắt chước, sao chép lại hành vi, suy nghĩ của người khác.
  • Học tập nhờ sự dạy dỗ: nhờ sự hướng dẫn, dạy dỗ của giáo viên mà điều chỉnh lại hành vi, suy nghỉ của bản thân.
  • học tập bằng sự hợp tác liên quan đến việc một nhóm người cố gắng hiểu nhau, làm việc chung với nhau để cố gắng đạt đến một kỹ năng cụ thể.

Trong tâm lý học văn hóa xã hội, vai trò của ngôn ngữ được nhấn mạnh. Ngôn ngữ là phương tiện, là công cụ quan trọng nhất để truyền thông tin, tình cảm từ người này sang người khác. Bên cạnh đó, ngôn ngữ là công cụ để tư duy vì nghĩa của từ có khả năng giúp con người khái quát hóa và phản ánh hiện thực khách quan. Ngoài ra ngôn ngữ còn được dùng để lập kế hoạch, hướng dẫn và điều khiển hành vi ở mức độ tự điều khiển dưới hình thức lời nói cá nhân.

Thành phần quan trọng thứ hai trong tâm lý học văn hóa xã hội là khái niệm vùng phát triển gần. Đó là khoảng nằm giữa trình độ phát triển hiện tại và trình độ phát triển có thể đạt được. Trình độ phát triển hiện tại được xác định bằng khả năng độc lập giải quyết vấn đề. Trình độ phát triển có thể đạt được được xác định bằng khả năng giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của người khác. Người học đạt được sự hiểu biết toàn bộ kiến thức khi vượt qua vùng phát triển gần và giải quyết được các vấn đề liên quan đến kiến thức một cách độc lập. Như vậy, nhiệm vụ của người dạy không chỉ phải xác định được vùng phát triển hiện tại mà còn phải xác định được vùng phát triển có thể đạt được. Từ đó mới có thể đưa ra các hình thức, phương pháp dạy học phù hợp với người học.

Lý thuyết cân bằng của Piaget và vùng phát triển gần của Vygotsky là các cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các chiến lược và phương pháp dạy học hiện đại. Đó là chiến lược (quan niệm) dạy học lấy học sinh làm trung tâm, các phương pháp dạy học tích cực như nêu và giải quyết vấn đề, dạy học theo nhóm, dạy học theo trạm ...

Bài này chủ yếu dựa vào giáo trình "Phương pháp dạy học vật lý" do thầy Nguyễn Đức Thâm chủ biên và các kiến thức tiếp thu được trong giờ phương pháp dạy học của thầy Lê Văn Giáo. Kính mong các thầy cô đồng nghiệp cho nhận xét. Mọi ý kiến xin được tiếp thu tại địa chỉ thanhvu@lytn.org. Xin trân trọng cảm ơn.

Comments